I. SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH THÔNG TIN LIÊN LẠC TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - 1945
I.1. Từ thời xa xưa đến thời phong kiến.
Có thể nói: Thông tin liên lạc là yêu cầu không thể thiếu và được hình thành, phát triển cùng với sự hình thành, phát triển của xã hội loài người. Khi chưa có ngôn ngữ, chữ viết, muốn thông tin cho nhau điều gì, người ta dùng động tác, những tiếng hú hoặc những hình vẽ.
Đến thời kỳ phong kiến, phương tiện được sử dụng để chuyển thông tin ban đầu là cờ, đèn, kèn, trống, ngựa, thuyền, chim câu,... Hình ảnh người cầm cờ tín hiệu trên mũi thuyền cong khắc trên các trống đồng cũng có thể là dấu hiệu của việc truyền tin bằng hiệu cờ. Quanh thành Cổ Loa còn có di tích của các ”Hoả đài” cũng là những di chỉ thể hiện cách thông tin từ thời xưa. Theo truyền thuyết, trên đỉnh núi Bài thơ tên cũ gọi là ”Núi truyền đăng” hay ”Núi rọi đèn” ở Hạ Long (thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay), có phiến đá lớn dùng làm nơi đốt lửa báo hiệu có biến động ở biên thuỳ, với phương tiện này các đồn binh sẽ chuyển tiếp thông tin về triều đình để kịp thời ứng phó. Phương tiện thông tin này rất hiệu quả, nên đến Thế kỷ 17, thời Trịnh - Nguyễn phân tranh vẫn sử dụng. Nguyễn Hữu Dật một tướng giỏi nhà Nguyễn xin lập đài đốt lửa báo hiệu ở các cửa biển Quảng Bình, để báo tin cho nhanh.(Sách Các đời Vua, Chúa nhà Nguyễn của tác giả Trần Quỳnh Cư và Trần Việt Quỳnh - NXB Thuận Hoá).
Các triều đại phong kiến còn lập các trạm trên các tuyến đường bộ, đường thủy. Các trạm là nơi để chuyển tiếp chiếu, chỉ, lệnh, dụ… (ngày nay gọi tắt là công văn) của triều đình tới mọi nơi. Các trạm có biên chế về người, ngựa, thuyền và các phương tiện vật chất khác để đảm bảo những yêu cầu rất cao về thời gian và an toàn hành trình của người phu trạm. Người của trạm, từ đội trạm, lính trạm hay phu trạm được vận trang phục như người lính chiến của triều đình, ngựa được tuyển chọn kỹ càng và luôn sẵn sàng lên đường khi người phu trạm của trạm trước đến là người và ngựa phi hành ngay đến trạm tới.
Đến cuối Triều Nguyễn, tên trạm được xác định bằng cách ghép tên tỉnh với tên thôn nơi có trạm. Trên địa bàn Hà Nội có hai trạm là :Trạm Hà Trung ở thôn Yên Trung, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi thành Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương, nay là phố Hà Trung, quận Hoàn Kiếm. Từ năm 1832 có đặt một trạm để chuyển công văn giấy tờ của triều đình. Khi thực dân Pháp xây dựng hệ thống bưu điện thì trạm này bị hủy bỏ. Dấu vết của trạm chỉ còn lưu lại dưới tên Hà Trung dẫn từ cổng trạm tới một ngõ đi của dân. Khoảng năm 1910, thực dân Pháp mở một phố song song với ngõ Trạm Hà Trung thì phố này được gọi là ngõ Trạm mới (nay là phố Ngõ Trạm thuộc quận Hoàn Kiếm). Lúc đó phố ngõ Trạm là Hà Trung được gọi là phố Ngõ Trạm cũ. Trạm Hà Mai được lập ở làng Hoàng Mai, nay thuộc phố Trương Định quận Hoàng Mai. Trạm đặt ngay trên đường cái quan, tức ven đường Trương Định ngày nay. Trạm được đặt dưới thời Minh Mạng (1820 - 1840) và cũng bị mai một khi thành lập Bưu điện thời kỳ đầu Pháp thuộc.
I.2. Dưới thời thuộc Pháp.
Thực dân Pháp tổ chức hệ thống Bưu điện theo mô hình của nước Pháp và dựa trên cơ sở trình độ kỹ thuật lúc đó.
Năm 1863 con tem đầu tiên được lưu hành tại Việt Nam là con tem được dùng chung cho các nước thuộc địa của Pháp.
Năm 1883, lập bưu cục tại Hà-nội. Trong khoảng 30 năm từ 1886 đến 1916, qua nhiều đợt xây dựng, thực dân Pháp đã xây dựng trung tâm Bưu điện (khu vực 75. Đinh Tiên Hoàng – Hà Nội ngày nay) với toà nhà 3 tầng. Năm 1942, Pháp xây phần nền, móng, hầm của toà nhà 5 tầng hiện nay, (gần 30 năm sau, năm 1971 Công ty xây dựng Công nghiệp Hà nội đã xây dựng toà nhà này, với sự giúp đỡ của Trung Quốc, các trang thiết bị khai thác bưu điện, tháp đồng hồ...đã được lặp đặt). Để xây dựng Trung tâm Bưu điện này thực dân Pháp đã phá bỏ chùa Báo Ân, một ngôi chùa lớn và đẹp nổi tiếng của Hà Nội lúc bấy giờ. Di tích của chùa Báo Ân còn lại đến bây giờ là tháp Hoà Phong bên phố Đinh Tiên Hoàng, cạnh hồ Hoàn Kiếm. Trước đấy từ thời vua Lê - chúa Trịnh đã xây dựng lầu Ngũ Long. Nơi đây, năm 1786 quân Tây Sơn đã đánh quân chúa Trịnh. Đến đời nhà Nguyễn, lầu bị đổ nát nên vào năm 1842, Tổng đốc Hà Ninh là Nguyễn Đăng Giai quyên tiền dân xây dựng chùa Báo Ân trên nền lầu Ngũ Long cũ. Dân chúng gọi chùa này là chùa Quan Thượng. Tầm vóc là sự tráng lệ của chùa đã được người dân truyền tụng bằng câu thơ:
Gần xa nô nức tưng bừng Vào chùa Quan Thượng, xem bằng động tiên.
Từ năm 1884 đến 1888 xây dựng tuyến cáp biển Vũng Tàu- Đồ Sơn có các nhánh rẽ vào Đà Nẵng, Huế, Vinh và các tuyến dây trần Hải Phòng-Hà Nội. Đến 1888 đã thiết lập được hệ thống thông tin điện báo giữa Hà Nội với Sài Gòn, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng.
Năm 1886 phát hành con tem đầu tiên dùng cho Nam kỳ và đến năm 1889 phát hành con tem dùng chung cho 3 nước Đông Dương. Từ cuối năm 1889, xây dựng tổng đài điện thoại Hà Nội (loại nhân công tiếp dây, lúc đầu có 800 số, khi Pháp rút khỏi Hà Nội ngày 10/10/1954 có 1500 số với 600 máy hoạt động).
Năm 1922, cơ sở vô tuyến điện ở Bắc bộ được thành lập với hai trung tâm liên lạc vô tuyến: Một ở Bạch Mai (ngã Tư Vọng) là trung tâm phát tín và một trung tâm thu tín ở số nhà 4 Phố Phạm Ngũ Lão. Địa điểm này còn được dùng làm cơ quan chỉ đạo của Sở Vô tuyến điện Đông Dương. Các trung tâm vô tuyến này hàng ngày có phiên liên lạc với các đạo quân đồn trú ở miền núi. Đồng thời, tiếp nhận và thông báo giá hàng của cơ sở mậu dịch quốc tế, tỷ giá tiền giữa đồng Franc với đồng bạc Đông Dương...
Tháng 7 năm 1927, xây dựng kho và Cơ xưởng bưu điện Trung ương tại số nhà 61-63 đường Trần Phú bây giờ.
Tháng 1 năm 1929, mở thêm tuyến hàng không bưu chính giữa Hà Nội với Paris, sau đó mở thêm các tuyến Hà Nội - Sài Gòn, Hà Nội - Đà Nẵng, Hà Nội - Viêng Chăn, Hà Nội - Phnom Pênh.
Người Bưu tá Hà Nội thời Pháp thuộc khi đi phát thư, chưa có xe đạp phải dùng xe tay, sau khi nhận thư từ Bưu điện trung tâm Bờ hồ, người phu xe kéo đưa Bưu tá đi đến các địa chỉ phát thư.
I.3. Thời kỳ phong
trào cách mạng trước khởi nghĩa tháng 8-1945.
Sự phát triển của phong trào cách mạng đòi hỏi phải tổ chức hệ thống giao thông liên lạc từ Trung ương đi các địa phương và ra nước ngoài, các đồng chí lãnh tụ cách mạng là những người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hệ thống giao thông liên lạc này.
Người được đồng chí Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) chọn làm ”giao thông viên” đầu tiên là đồng chí Nguyễn Lương Bằng (sau này là Phó Chủ tịch Nước) hội viên Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, là thuỷ thủ làm việc trên tầu biển của Pháp thường cập bến Sa Điện, lập một chi bộ ba người trên tầu và tổ chức đường giao thông liên lạc chuyển đưa tài liệu từ nước ngoài về trong nước và ngược lại.
Tiếp đó đồng chí Nguyễn Ái Quốc giao cho đồng chí Nguyễn Công Thu là hội viên Hội Việt Nam thanh niên cách mạng được cử đi học tại Quảng Châu (Trung Quốc) đảm nhận công tác chuyển đưa báo chí, tài liệu cách mạng từ Quảng Châu theo đường bộ về trong nước và ngược lại.
Trong những năm 1926, 1927, địa điểm liên lạc của giao thông tại Hà Nội được đặt ở chùa Hương Tuyết, Bạch Mai, ngoài ra còn đặt ở nhiều địa điểm khác trong nội và ngoại thành. Trước sự phát triển của phong trào, tại Hà Nội, sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), Xứ ủy Bắc Kỳ giao cho đồng chí Tô Hữu Hạnh (sau này là Giám đốc Bưu điện Hà Nội) là đảng viên và là công nhân sửa chữa máy ở đài thu vôtuyến điện của Pháp đã tổ chức, lập đài thu phát đặt tại nhà bà Tu ở làng La Phù, huyện Hoài Đức (Hà Tây). Sau đó lập được một đài nữa đặt ở chùa làng Đông Lao. Tuy kẻ địch luôn phong tỏa tin tức nhưng điện đài đặt tại La Phù đã nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vôđiều kiện. Sáng ngày 17/8/1945, đài của ta bắt được tin quân đồng minh sẽ vào Đông Dương tước vũ khí của Nhật. Đó là những thông tin quý giúp lãnh đạo trung ương Đảng có những chủ trương, chỉ thị kịp thời dẫn tới thành công của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945.
Chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945, toàn Quốc hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông dương đã họp tại Tân Trào và ra nghị quyết về Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trên toàn Quốc. Tại phần VIII. Vấn đề giao thông, nghị quyết nêu rõ:
Phải đặc biệt chú trọng củng cố giao thông giữa các Xứ ủy và các cấp Đảng bộ.
Tích cực tổ chức giao thông trong các ngành vận tải.
Lập Ban giao thông chuyên môn và giúp đỡ đầy đủ cho họ làm tròn nhiệm vụ.
Sau này ngành Bưu điện Việt Nam đã lấy ngày 15/8 hàng năm là ngày Truyền thống của Ngành.
Cách mạng Việt Nam chuyển biến nhanh chóng do tình hình Thế giới đã tạo những điều kiện thuận lợi, ngay đêm 13/8/1945, Uỷ ban khởi nghĩa đã ra quân lệnh số I. Ngày 15/8/1945, Xứ uỷ Bắc kỳ chỉ thị cho Hà Nội khởi nghĩa. Từ những ngày đầu tháng Tám, lực lượng giao thông Hà Nội đã chuyển đưa rộng khắp các loại báo của Đảng như: Cờ Giải phóng, Cứu Quốc, Độc lập... đến tay quần chúng nhân dân. Một số công sở của địch, kể cả Sở Cảnh sát cũng được anh em Giao thông bí mật phát báo đến tận nơi. Nhân dân, công chức Hà nội đua nhau đọc báo Đảng và mua tín phiếu cách mạng. Giao thông cũng lập ra nhiều đường dây mới để chuyển vũ khí vào nội thành phục vụ cho khởi nghĩa vũ trang như các tuyến Bưởi - Cầu Giấy - Canh - Diễn... Ngày 19/8/1945, cuộc khởi nghiã đã thành công tại Hà Nội với lực lượng quần chúng đông đảo mít tinh tại quảng trường Nhà hát lớn. Một lực lượng lớn đã kéo vào chiếm Phủ Khâm sai (nay là Nhà khách Chính phủ tại phố Ngô Quyền). Hệ thống điện thoại tại Hà Nội sau khi về tay chính quyền cách mạng đã phục vụ đắc lực cho việc chỉ đạo khởi nghĩa thành công ở các địa phương.